Kỳ thị phân biệt đối xử - Rào cản tiếp cận dịch vụ đối với người nhiễm và người có nguy cơ cao lây nhiễm với HIV
Cho dù đã trải qua 35 năm phòng, chống HIV/AIDS với rất nhiều nỗ lực thì cho đến nay HIV/AIDS vẫn còn là một trong những vấn đề y tế công cộng nhức nhối, đáng quan tâm tại Việt Nam. Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức to lớn liên quan đến thái độ của xã hội đối với người nhiễm HIV/AIDS. Kỳ thị và phân biệt đối xử đang tiếp tục cản trở khiến những nhóm người lao động dễ bị tổn thương không được hưởng các quyền cơ bản về chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội, đồng thời cản trở bước tiến của những hoạt động phòng, chống HIV/AIDS. Theo kế hoạch triển khai các hoạt động hưởng ứng 35 năm Việt Nam ứng phó với HIV/AIDS, Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2025 và Ngày Thế giới phòng, chống AIDS 01/12 đã chỉ rõ các hoạt động của chương trình được thực hiện với ba mục tiêu chính trong đó có mục tiêu của toàn quốc trong thời gian tới là: Giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV, người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và người có hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV; tăng cường sự hỗ trợ của gia đình, xã hội với người nhiễm HIV, tạo điều kiện để người nhiễm HIV và thành viên gia đình họ tham gia các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS. Điều này cho thấy, kỳ thị phân biệt đối xử vẫn là một trong những rào cản chính khiến người dân không dám tiếp cận với các dịch vụ Chăm sóc, điều trị và dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS.

Nghiên cứu của Mai Văn Phụng tại Bình Dương tìm hiểu về sự phân biệt đối xử đối với người lao động nhiễm HIV/AIDS tại nơi làm việc chỉ ra rằng sự hạn chế kiến thức về HIV dẫn tới người dân lo sợ lây nhiễm với HIV nên không dám tiếp xúc kể cả những tiếp xúc thông thường với người nhiễm HIV. Ngoài ra, sự kỳ thị liên quan đến HIV/AIDS có xuất phát từ một thực tế là trong tâm trí của tất cả mọi người trong cộng đồng, kể cả các cán bộ lãnh đạo và cán bộ y tế, HIV/AIDS luôn gắn liền với ma tuý và mại dâm, là các tệ nạn xã hội. Do vậy luôn có sự xét đoán đối với những người đã bị nhiễm HIV/AIDS, cho rằng họ nhiễm căn bệnh này do lối sống không lành mạnh và gây thiệt hại cho cả gia đình và xã hội.
Theo đánh giá sự tiếp cận các dịch vụ can thiệp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam quan hệ đồng tính tại tỉnh Bến Tre giai đoan 2014 -2018 của tác giả Ngô Văn Tán cho thấy nếu không có can thiệp thì mặc dù có 53,1% các đối tượng biết nơi để làm xét nghiệm HIV nhưng chỉ có 27,2% đối tượng đã từng đi xét nghiệm. Tác giả cũng chỉ ra rằng cần phải truyền thông nhấn mạnh về lợi ích và tính bảo mật khi đến các cơ sở xét nghiệm đối với các đối tượng. Điều này cho thấy khách hàng họ muốn giữ kín thông tin, tránh sự kỳ thị, phân biệt của cộng đồng khi biết họ thuộc nhóm nguy cơ cao lây nhiễm với HIV.
Hay theo nghiên cứu của Đoàn Thu Trà và cộng sự tại Trung tâm Bệnh nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai cho thấy kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn là những thách thức lớn mà bệnh nhân phải đối mặt với điểm kỳ thị trung bình đạt 27,8 ± 8,3, đây là số điểm thể hiện sử kỳ thị đáng kể trong cộng đồng. Những lo ngại lớn nhất liên quan đến tiết lộ tình trạng HIV của bản thân và thái độ tiêu cực từ cộng đồng, đặc biệt là việc bị xã hội từ chối hoặc coi thường , gây ra nhiều áp lực và khó khăn cho bệnh nhân trong quá trình điều trị và hòa nhập cộng đồng.
Những ghi nhận trên cho thấy nhu cầu cấp thiết phải giảm bớt kỳ thị và phân biệt đối xử trong cộng đồng đối với người nhiễm và người có nguy cơ lây nhiễm với HIV, tạo điều kiện thuận lợi cho họ tiếp cận với các dịch vụ dự phòng, chăm sóc điều trị HIV/AIDS. Từ đó đảm bảo “Công bằng, bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS - Hướng tới chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030”.


