Những điều cần biết về virus Nipah gây bệnh nguy hiểm trên người vủa ghi nhận tại Ấn Độ
Virus Nipah là một trong những tác nhân gây bệnh nguy hiểm ở người với tỷ lệ tử vong rất cao, trong khi y học vẫn chưa có vaccine hay thuốc điều trị đặc hiệu. Nipah được Tổ chức Y tế Thế giới xếp vào nhóm tác nhân gây bệnh nguy cơ cao.
Virus Nipah là gì?
Virus Nipah (tên khoa học Henipavirus nipahense) thuộc họ Henipavirus. Do cùng thuộc chi Henipavirus nên Nipah cũng mang một số đặc điểm giống với các chủng khác, song ở một số khía cạnh, độ nguy hiểm của nó cao hơn. Một số nhà khoa học cho rằng virus Nipah có độc tính gấp 75 lần Corona virus. Virus Nipah chủ yếu tồn tại ở loài dơi và từ dơi có thể truyền sang cho một số động vật như dê, cừu, ngựa, lợn, chó, mèo,… Virus lây truyền từ động vật sang người và lây truyền trực tiếp giữa người với người qua thực phẩm bị nhiễm virus hoặc tiếp xúc gần.
Virus Nipah được phát hiện lần đầu khi nào?
Nipah không phải là virus mới xuất hiện, virus này được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1999 sau đợt bùng phát bệnh viêm não và bệnh hô hấp ở các nông dân nuôi lợn, cũng như những người có tiếp xúc gần với lợn bị nhiễm virus tại Malaysia và Singapore.

Virus Nipah
Sau đó, Nipah được công nhận là virus gây bệnh nghiêm trọng có khả năng lây nhiễm từ động vật sang người. Tuy nhiên, kể từ thời điểm đó đến nay không ghi nhận thêm đợt bùng phát bệnh do virus Nipah tại Malaysia và Singapore.
Một số đợt bùng phát dịch bệnh do virus Nipah khác cũng xuất hiện tại các quốc gia Nam Á như Bangladesh, Ấn Độ trong những năm qua. Tại Philippines, một số ca nhiễm bệnh do virus Nipah gây ra vào năm 2014, nhưng sớm kết thúc và không tạo nên đại dịch.
Virus Nipah nguy hiểm đến mức nào?
Virus Nipah có tỷ lệ tử vong cao cho người bị nhiễm, với mức được báo cáo dao động từ 40 đến 75%, tùy thuộc tình trạng sức khỏe của người nhiễm, thời điểm bùng phát và chủng virus lưu hành. Theo nghiên cứu của Cơ quan An ninh Y tế Anh, khoảng 20% số người sống sót sau khi nhiễm virus Nipah có thể gặp các di chứng thần kinh lâu dài, chẳng hạn như co giật dai dẳng hoặc thay đổi tính cách, trở nên gắt gỏng hơn. Trong một số trường hợp rất hiếm gặp, người từng nhiễm virus Nipah có thể gặp tình trạng viêm não sau nhiều tháng hoặc nhiều năm kể từ thời điểm nhiễm virus, do virus trong cơ thể tái hoạt động.
Các triệu chứng khi nhiễm virus Nipah ở người
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ, thời gian ủ bệnh của người nhiễm virus Nipah thường kéo dài từ 4 đến 21 ngày, một số trường hợp hiếm hoi kéo dài đến 45 ngày.
Bệnh nhân thường xuất hiện các triệu chứng giống cúm đột ngột, đặc trưng bởi sốt, đau đầu, đau cơ, đau họng và mệt mỏi. Trong một số trường hợp, các triệu chứng về hô hấp như ho, khó thở, viêm phổi cũng xuất hiện với mức độ nghiêm trọng có thể khác nhau.
Một số trường hợp nặng cũng gặp tình trạng suy hô hấp cấp tính hoặc bệnh nhân có thể cảm thấy chóng mặt, buồn ngủ, thay đổi ý thức và các dấu hiệu thần kinh cho thấy viêm não cấp tính. Viêm não và co giật xảy ra với các trường hợp nặng dẫn đến hôn mê trong vòng 24 đến 48 giờ sau khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên.
Do các dấu hiệu và triệu chứng ban đầu của người nhiễm virus Nipah không đặc hiệu, điều này có thể dẫn đến tình huống chẩn đoán sai và tạo ra khó khăn trong việc phát hiện ổ dịch để khoanh vùng, cách ly.
Khuyến cáo để giảm nguy cơ nhiễm virus Nipah:
Để chủ động, phòng chống dịch bệnh do virus Nipah Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hiện tốt các biện pháp sau:
1. Hạn chế đến khu vực có dịch bệnh do virus Nipah nếu không thực sự cần thiết.
2. Tự theo dõi sức khỏe, trong vòng 14 ngày kể từ khi về từ vùng dịch, nếu có các triệu chứng như: đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng, chóng mặt, buồn ngủ, lú lẫn, co giật cần liên hệ ngay với cơ sở y tế gần nhất, hạn chế tiếp xúc với người khác, thông báo rõ tiền sử dịch tễ cho nhân viên y tế.
3. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm: thực hiện "Ăn chín, uống sôi", rửa sạch và gọt vỏ trái cây trước khi ăn, không ăn, uống các loại trái cây có dấu hiệu bị động vật (dơi, chim) cắn hoặc gặm nhấm; tránh uống nước nhựa cây (như nhựa cây thốt nốt, nhựa dừa sống hoặc chưa qua chế biến).
4. Không tiếp xúc gần với động vật có khả năng lây truyền cao như là dơi ăn quả; thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn sau khi giết mổ, tiếp xúc với động vật.
5. Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, vật phẩm ô nhiễm từ người bệnh; cần sử dụng khẩu trang, găng tay và đồ bảo hộ cá nhân khi chăm sóc, điều trị người nghi ngờ, mắc bệnh, sau đó rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn.
Hồng Thắm TH


