• :
  • :
CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT TỈNH HƯNG YÊN                      ĐƯỜNG DÂY NÓNG TƯ VẤN VỀ DỊCH BỆNH COVID-19 TỈNH HƯNG YÊN: 0389.988.266 HOẶC 0966.331.515
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

CHUNG TAY HƯỞNG ỨNG THÁNG CAO ĐIỂM DỰ PHÒNG LÂY TRUYỀN HIV TỪ MẸ SANG CON: VÌ MỘT THẾ HỆ TƯƠNG LAI KHÔNG CÒN HIV/AIDS

Tháng cao điểm Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con là dịp để toàn xã hội cùng nhìn lại những thành quả đã đạt được trong công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Đây cũng là cơ hội quan trọng để nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc phát hiện sớm, điều trị kịp thời HIV cho phụ nữ mang thai, nhằm bảo vệ thế hệ tương lai khỏi nguy cơ lây nhiễm và hướng tới mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS.

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các thuốc kháng vi rút (ARV) và việc triển khai đồng bộ, hiệu quả các chương trình y tế, công tác phòng, chống HIV/AIDS tại nhiều địa phương đã đạt được những kết quả rất tích cực. Phòng khám ARV tại Bệnh viện Nhi Thái Bình trong nhiều năm liên tiếp, ghi nhận: Không có trường hợp trẻ em nào sinh ra từ các bà mẹ nhiễm HIV đang điều trị ARV bị nhiễm căn bệnh này. Thành công này là minh chứng rõ nét nhất khẳng định vai trò quyết định của việc phát hiện sớm tình trạng nhiễm HIV ở phụ nữ mang thai, quản lý thai nghén chặt chẽ và tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ điều trị ARV trong suốt thai kỳ. Kết quả này không chỉ mang lại hạnh phúc vô bờ bến cho các gia đình mà còn thắp lên niềm hy vọng lớn lao, góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia hướng tới loại trừ lây truyền HIV từ mẹ sang con tại Việt Nam trong những năm tới.

Bên cạnh những thành quả ở mặt trận dự phòng, công tác chăm sóc, điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ em không may nhiễm HIV cũng được quan tâm đặc biệt. Theo số liệu chuyên môn từ phòng khám ARV thuộc Bệnh viện Nhi Thái Bình phòng khám hiện đang quản lý và điều trị ARV cho 21 bệnh nhi. Trong số đó: 18 bệnh nhi đang được điều trị bằng phác đồ ARV bậc 1, 03 bệnh nhi đang điều trị bằng phác đồ ARV bậc 2.

Để đảm bảo hiệu quả tối ưu, tất cả các bệnh nhi tại đây đều được theo dõi sức khỏe định kỳ, đánh giá thể trạng, tinh thần và thực hiện xét nghiệm tải lượng vi rút hằng năm theo đúng hướng dẫn chuyên môn nghiêm ngặt của Bộ Y tế.

Trong quy trình điều trị, xét nghiệm tải lượng vi rút đóng vai trò then chốt. Đây là công cụ kỹ thuật giúp các bác sĩ đánh giá chính xác mức độ kiểm soát vi rút trong cơ thể người bệnh, từ đó phát hiện sớm nguy cơ thất bại điều trị để kịp thời điều chỉnh, thay đổi phác đồ khi cần thiết. Khi tải lượng vi rút được kiểm soát ổn định và duy trì dưới ngưỡng phát hiện, sức khỏe của trẻ sẽ được cải thiện rõ rệt, hệ miễn dịch được bảo vệ giúp giảm đáng kể nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống, giúp các em học tập và sinh hoạt bình thường. Đây cũng là cơ sở khoa học để các cán bộ y tế xây dựng kế hoạch chăm sóc, tư vấn tâm lý và hỗ trợ phù hợp cho từng trường hợp cụ thể.

Dù đã đạt được nhiều bước tiến lớn, song công tác điều trị HIV ở trẻ em thực tế vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức mang tính xã hội.

Tại các phòng khám chuyên khoa, đội ngũ cán bộ y tế luôn phải sát sao theo dõi, nhắc nhở lịch tái khám, tư vấn tuân thủ điều trị và hỗ trợ tâm lý liên tục cho các cháu cùng gia đình. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: em thì mất cha, em thì mất mẹ, hoặc mất cả cha lẫn mẹ, hiện đang phải sống cùng ông bà cao tuổi hoặc người thân không có đủ điều kiện kinh tế và thời gian để chăm sóc thường xuyên.

Sự thiếu vắng người giám sát trực tiếp trong việc uống thuốc hằng ngày dẫn đến tình trạng trẻ dễ quên thuốc, uống sai giờ hoặc bỏ thuốc. Yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị, khiến thực tế vẫn còn một số ít trường hợp có tải lượng vi rút trên 200 bản sao/ml máu. Đây là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ kháng thuốc, giảm hiệu quả điều trị và cần được theo dõi, can thiệp chặt chẽ hơn.

Thực trạng này cho thấy, cuộc chiến chống HIV/AIDS nói chung và bảo vệ trẻ em nhiễm HIV nói riêng không chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành y tế. Đó là trách nhiệm chung cần sự vào cuộc, đồng hành của gia đình, nhà trường, cộng đồng và các tổ chức xã hội nhằm tạo dựng một môi trường hỗ trợ toàn diện. Sự quan tâm, động viên, không kỳ thị và phân biệt đối xử từ cộng đồng sẽ là liều thuốc tinh thần vô giá, giúp các em có thêm động lực vượt qua mặc cảm, tuân thủ điều trị tốt hơn để phát triển khỏe mạnh như bao bạn bè đồng trang lứa.


Tác giả: Sen Hoàng
Nguồn: CDC Hưng Yên
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
LIÊN KẾT WEBSITE
THĂM DÒ Ý KIẾN
Bạn cảm thấy chất lượng dịch vụ của chúng tôi thế nào?