Giữ mạch sống giữa rừng xanh
Trong ký ức của những người từng đi qua chiến trường miền Nam, có một âm thanh đặc biệt không phải tiếng súng...
Đó là tiếng võng rung trong những lán phẫu thuật dã chiến, tiếng bước chân vượt rừng mang thuốc, tiếng gọi nhau trong đêm: "Còn bệnh nhân không?". Giữa bom đạn và sốt rét, giữa thiếu thốn đến tận cùng, những thầy thuốc của Ban Dân y miền Nam đã giữ lấy sự sống bằng đôi bàn tay trần, bằng lòng quả cảm và một niềm tin giản dị: còn cứu được một người là còn giữ được ngày mai của đất nước.
Tôi đến Chàng Riệc (Trung ương cục Miền Nam, Tây Ninh) trong những ngày chuẩn bị thực hiện bộ phim tài liệu "Bản hùng ca áo trắng rừng xanh" trong series phim kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam, thông nhất đất nước. Ban đầu, đó chỉ là một chuyến đi tìm bối cảnh. Tôi cần những khu rừng, những con đường mòn, những dấu tích còn sót lại để kể lại một phần lịch sử của Ban Dân y miền Nam. Nhưng càng đi sâu vào những cánh rừng già của Tây Ninh, tôi càng nhận ra mình không chỉ đi tìm bối cảnh cho một bộ phim. Tôi đang đi tìm những con người, những nhân chứng một thời.
Khu di tích hôm ấy bình yên đến lạ. Tiếng chim nhiều hơn tiếng người. Những lối mòn từng in dấu chân giao liên gần như đã bị thời gian phủ lấp. Khó ai có thể hình dung nơi yên tĩnh ấy từng là một "bệnh viện không tường", nơi hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ và người dân được cứu chữa trong điều kiện khắc nghiệt nhất. Nhưng chỉ cần ngồi xuống bên những nhân chứng, cánh rừng dường như lập tức thức dậy.
Trạm quân y dã chiến, chiếc võng tre làm xe hồng thập tự (ảnh: Võ An Khánh).
Bác sĩ Phạm Thị Nguyệt Ánh (nguyên Phó Giám đốc BV Chợ Rẫy) kể về ca mổ dưới bom như kể chuyện ngày hôm qua. Bác sĩ Hoàng Thị Quý (nguyên Giám đốc Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch) nhớ rất rõ tên đồng đội đã hy sinh nhưng bà lại quên mất tuổi mình khi bước vào chiến trường. Có những ánh mắt đã mờ theo năm tháng, nhưng khi nhắc đến thương bệnh binh, đến những đêm tải thương xuyên rừng, ký ức họ bỗng trở nên sắc nét lạ thường.
Trong số những người tôi gặp, PGS.TS Trần Thị Trung Chiến (nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế, Chủ nhiệm CLB Ban Dân Y Miền Nam) để lại ấn tượng đặc biệt. Ở bà, tôi nhìn thấy hình ảnh của cả một thế hệ thầy thuốc trưởng thành từ chiến tranh. Một thế hệ bước vào rừng khi tuổi đời mới mười tám, đôi mươi, mang theo hành trang không nhiều hơn lý tưởng cứu người và niềm tin vào ngày thống nhất.
Khi được hỏi điều gì đã khiến những người trẻ tuổi năm ấy chấp nhận đi vào nơi cái chết luôn cận kề, bà trả lời bằng giọng điềm tĩnh: "Lúc vào chiến trường chúng tôi chỉ mới mười tám, đôi mươi nhưng không có tính toán hay nghĩ ngợi cái gì hết. Thiêng liêng lắm, mãnh liệt lắm, chúng tôi coi cái chết nhẹ như lông hồng".
Câu nói ấy theo tôi suốt quá trình làm phim. Nó không chỉ giúp tôi hiểu về thế hệ của bà, mà còn giúp tôi hiểu vì sao Ban Dân y miền Nam có thể tồn tại và phát triển trong những điều kiện tưởng như không thể. Nếu chiến tranh được ghi nhớ bằng những trận đánh lớn, thì phía sau những chiến thắng ấy là một cuộc chiến khác ít được nhắc tới hơn: cuộc chiến chống lại tử thần.
"Lúc vào chiến trường chúng tôi chỉ mới mười tám, đôi mươi nhưng không có tính toán hay nghĩ ngợi cái gì hết. Thiêng liêng lắm, mãnh liệt lắm, chúng tôi coi cái chết nhẹ như lông hồng"
PGS.TS Trần Thị Trung Chiến (Nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế, Chủ nhiệm Câu lạc bộ truyền thống Ban Dân y miền Nam).
BS Trần Thị Trung Chiến, bệnh xá trưởng cơ quan Ban Cơ yếu Trung ương Cục Miền Nam khám bệnh cho cán bộ cơ quan.
Trong những cánh rừng ấy, chiếc võng trở thành xe hồng thập tự. Bàn mổ nhiều khi được đặt trên vai y tá. Người cứu thương có lúc phải ngâm mình dưới nước nhiều giờ mặc cho bầy đỉa đeo bám hút máu. Những bệnh viện dã chiến liên tục di chuyển theo nhịp bom càn. Có những ngày vừa hoàn thành một ca phẫu thuật, cả đơn vị đã phải tháo dỡ lán trại để chuyển sang địa điểm khác. Có những đêm sốt rét hành hạ đến run lẩy bẩy nhưng sáng hôm sau vẫn phải tiếp tục công việc. Thiếu thuốc, thiếu máu, hiếu trang thiết bị nhưng chưa bao giờ thiếu ý chí cứu người.
Từ tư tưởng của cố Bộ trưởng Y tế Phạm Ngọc Thạch, một hệ thống dân y đặc biệt đã hình thành giữa chiến trường miền Nam. Không chỉ điều trị thương bệnh binh, Ban Dân y còn đào tạo cán bộ, phòng chống dịch bệnh, nghiên cứu sốt rét, sản xuất thuốc men và duy trì hoạt động y tế trong điều kiện bị phong tỏa, bao vây. Nhiều nhà nghiên cứu xem đây là một trong những mô hình y tế chiến trường đặc biệt của lịch sử y học Việt Nam.
Nhưng nếu chỉ nhìn Ban Dân y miền Nam qua những thành tựu ấy, có lẽ vẫn chưa đủ. Điều khiến tôi day dứt nhất sau hành trình làm phim lại nằm ở những câu chuyện rất nhỏ, rất đời thường, về những con người đã âm thầm giữ cho sự sống không đứt mạch giữa chiến tranh.
BS Dương Quỳnh Hoa, Bộ trưởng Bộ Y tế - Xã hội và Thương binh đến thăm thương bệnh binh tại Trung ương cục miền Nam.
Những người giữ sự sống trong lặng thầm
Đi cùng đoàn làm phim trong những ngày gặp gỡ các cựu cán bộ Ban Dân y miền Nam, tôi nhận ra điều khiến họ xúc động nhất sau hơn nửa thế kỷ không phải là những chiến công. Họ nhớ về những đồng đội đã lặng lẽ làm công việc của mình trong điều kiện khắc nghiệt nhất, rồi lặng lẽ nằm lại giữa rừng. Dược sĩ Nguyễn Thị Mỹ Hạnh là một trong những người như thế.
Công việc của bà không phải đứng trong phòng mổ hay trực tiếp cầm dao phẫu thuật. Bà thuộc lực lượng tải thuốc, những người gùi từng thùng thuốc, từng kiện vật tư y tế vượt qua bom đạn để đưa đến các bệnh viện dã chiến. Công việc ấy âm thầm nhưng cũng đối mặt hiểm nguy không kém bất kỳ chiến sĩ nào ngoài mặt trận. Trong ký ức của bà vẫn còn nguyên hình ảnh một người đồng đội ngã xuống chỉ cách mình vài bước chân. Chiến tranh khốc liệt đến mức có những cuộc chia ly không kịp một lời từ biệt. Nhiều năm sau, khi nhắc đến người đồng đội đã hy sinh, bà vẫn nghẹn lại khi kể về một đám tang không có thi hài.
Một trạm cấp cứu thương bệnh binh trong rừng tràm Cần Giuộc.
Những mất mát không được ghi bằng những dòng sử liệu lớn, nhưng theo họ suốt cuộc đời
Tôi cũng không quên câu chuyện nữ bác sĩ Nguyễn Thị Hồng Đức kể lại câu chuyện mà bà chứng kiến người lính trẻ mới mười tám tuổi phải cắt bỏ cả hai chân sau một trận đánh. "Trong khi những người xung quanh không cầm được nước mắt, cậu ấy lại nở nụ cười nói với tôi: "Chị ơi, còn gì nữa đâu mà không cười...". Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng mỗi lần nhắc lại câu nói ấy, giọng bà vẫn nghẹn đi. Có lẽ chính những khoảnh khắc như vậy đã làm nên sức mạnh tinh thần của Ban Dân y miền Nam. Họ không chỉ chữa lành những vết thương trên cơ thể. Họ giữ cho con người niềm tin để tiếp tục sống.
Ban Dân y miền Nam được hình thành trong kháng chiến chống Mỹ với nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vùng giải phóng. Trong điều kiện thiếu thốn khốc liệt, lực lượng này đã xây dựng một hệ thống y tế đặc biệt giữa rừng sâu: từ điều trị thương bệnh binh, đào tạo cán bộ y tế, chống dịch, nghiên cứu vaccine, đến sản xuất thuốc men, cồn sát khuẩn trong điều kiện bị phong tỏa. Nhiều nhà nghiên cứu xem đây là một trong những mô hình y tế chiến trường đặc biệt của lịch sử y học Việt Nam.
Chiến tranh khốc liệt là thế, nhưng trong ký ức của các nhân chứng, vẫn có những khoảng sáng rất đẹp của tình người. Giữa rừng sâu, những đám cưới không áo hoa vẫn diễn ra. Không váy cưới, không nhẫn cưới, không tiệc mừng. Chỉ có vài đồng đội đứng quanh, vài lời chúc vội vàng trước khi mỗi người lại tiếp tục nhiệm vụ của mình. Ngày mai có thể chuyển trạm. Ngày mai có thể hành quân. Ngày mai có thể không còn gặp lại. Nhưng người trẻ năm ấy vẫn yêu, vẫn cưới, vẫn tin vào hòa bình. Và, điều kỳ diệu đã đến khi những mầm xanh đã cất tiếng khóc chào đời giữa tiếng bom đạn gầm rú tại các bệnh viện dã chiến giữa cánh rừng Chàng Riệc
Chính những điều bình dị ấy khiến những người làm nghề cứu người trong chiến tranh trở nên gần gũi hơn, chân thực hơn. Họ không phải những biểu tượng được đặt trên bệ cao. Họ là những con người bằng xương bằng thịt, biết yêu thương, biết đau đớn, biết mất mát, nhưng vẫn chọn ở lại với nhiệm vụ của mình. Sự hy sinh của các y, bác sĩ Ban Dân y miền Nam không chỉ nằm ở những ca phẫu thuật giữa bom đạn hay những chuyến tải thương xuyên rừng. Đó còn là những tháng năm tuổi trẻ gửi lại chiến trường. Là những cuộc chia tay không hẹn ngày gặp lại. Là những người mẹ sinh con trong rừng rồi tiếp tục công tác. Là những y, bác sĩ của Tổ sốt rét C30 thuộc Phòng vi trùng đã ngày đêm ra bờ suối, mương nước, lùm cây lấy thân mình làm mồi bắt muỗi để nghiên cứu vi trùng gây bệnh. Là những người chấp nhận đối diện với bệnh tật, đói khát và cái chết để bảo vệ sự sống cho người khác.
Tất cả những điều ấy diễn ra trong lặng thầm, như chính tên gọi của cuộc thi này: "Những hy sinh thầm lặng".
Đoàn phim HTV đang ghi hình những hoạt động của Ban Dân Y miền Nam.
Bộ rễ của y đức
Có lẽ cũng từ những ngày đi tìm chất liệu cho bộ phim, tôi hiểu rằng hành trình này không chỉ là một cuộc tìm kiếm tư liệu lịch sử. Đó còn là hành trình đi tìm bộ rễ của một giá trị mà ngành Y Việt Nam hôm nay vẫn đang gìn giữ. Có một câu tôi từng viết trong lời bình phim: "Ngọn muốn vươn tột đỉnh vinh quang, rễ phải bám chặt tận cùng quá khứ." Ban đầu, đó chỉ là một câu chữ phục vụ cho mạch kể của bộ phim. Nhưng càng gặp gỡ các nhân chứng, càng lắng nghe những câu chuyện về Ban Dân y miền Nam, tôi càng hiểu rằng câu nói ấy không chỉ dành cho một bộ phim. Nó dành cho cả ngành Y.
Những giá trị mà hôm nay chúng ta xem như lẽ tự nhiên, đặt người bệnh ở trung tâm, tận tâm trước sinh mệnh, không bỏ lại bệnh nhân trong lúc hiểm nguy, thực ra đã từng được thử lửa đến tận cùng giữa những cánh rừng miền Nam năm ấy. Ban Dân y miền Nam không chỉ để lại những ký ức bi hùng của chiến tranh. Họ để lại một hệ giá trị, một nền móng, một bộ rễ. Từ bộ rễ ấy, nhiều thế hệ thầy thuốc Việt Nam đã trưởng thành, tiếp tục viết nên những câu chuyện tận hiến trong thời bình.
Đoàn phim HTV đang ghi hình những hoạt động của Ban Dân Y miền Nam khi trở về thăm Trung ương cục miền Nam. Ảnh Minh Diệu.
Chiều muộn, khi rời Chàng Riệc sau một ngày ghi hình, tôi ngoái lại nhìn những tán rừng đang chuyển màu trong nắng. Thật khó hình dung nơi bình yên ấy từng là một "bệnh viện không tường", nơi hàng nghìn con người đã chiến đấu để giành giật sự sống cho đồng đội bằng đôi bàn tay trần.
Có những khu rừng đã im tiếng bom từ rất lâu. Nhưng trong ký ức của ngành Y Việt Nam, những người mặc áo trắng năm ấy vẫn còn ở đó. Không phải như những nhân chứng của chiến tranh, mà như những người đã âm thầm vun đắp bộ rễ cho một nền y đức Việt Nam.
Minh Diệu








