Tăng huyết áp (THA) là một bệnh lý mang tính toàn cầu. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO), toàn thế giới có khoảng 1 tỷ người tăng huyết áp và ước tính đến năm 2025, con số này sẽ tăng lên đến 1,56 tỷ. Cũng theo WHO, THA là một trong những nguyên nhân gây tử vong quan trọng nhất, mỗi năm ước tính THA gây tử vong cho gần 8 triệu người.

Tại Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp ngày càng tăng, năm 2000 có khoảng 16,3%, đến năm 2009 tỷ lệ là 25,4% và năm 2016 tỷ lệ THA đang ở mức báo động là 48%, một mức báo động đỏ trong thời điểm hiện tại.

 - Phân loại tăng huyết áp: Theo hướng dẫn điều trị tăng huyết áp 2017 của ACC/AHA (Đại học tim mạch Hoa Kỳ/ Hội tim mạch Hoa Kỳ) đưa ra phân loại mới như sau:

 + Huyết áp bình thường: < 120/80mmHg.

 + Huyết áp ở mức cao: Huyết áp tâm thu: 120 – 129 mmHg; Huyết áp tâm trương: < 80 mmHg.

 + Tăng huyết áp độ 1: Huyết áp tâm thu: 130 – 139 mmHg; Huyết áp tâm trương: 80 – 89 mmHg.

 + Tăng huyết áp độ 2: Từ 140/90 mmHg trở lên.

- Sử dụng thuốc điều trị Tăng huyết áp, các nhóm thuốc chính:

+ Nhóm thuốc lợi tiểu Thiazid (Chorothiazid, Metolazon…): Chỉ định ưu tiên trong trường hợp tăng huyết áp tâm thu đơn độc (người già), suy tim. Nhóm thuốc này có ưu điểm là giá thành tươn đối thấp và được dung nạp tốt trên phần lớn bệnh nhân, nhưng có thể gây ra một số tác dụng không mong muốn (TDKMM) như: hội chứng chuyển hóa (hạ kali, magie, tăng calci máu, giảm dung nạp glucose), rối loạn cương dương… Các TDKMM này phụ thuộc vào liều, liều cao sẽ làm tăng TDKMM.

Chú ý: tác dụng hạ huyết áp của nhóm thuốc lợi tiểu Thiazid có được ngay ở liều rất thấp, vì vậy các khuyến cáo hiện nay đều nhấn mạnh chỉ nên dùng nhóm thuốc này ở mức liều thấp, ví dụ: Hydrochlorothiazid hay Chlorthalion ở mức liều 12,5 – 25mg/ngày.

Không dùng chung với các thuốc chống viêm không steroid vì sẽ giảm hiệu quả của thuốc, tránh dùng thuốc trên bệnh nhân đang phải dùng Lithi do làm tăng nguy cơ ngộ độc Lithi.

          + Thuốc chẹn beta giao cảm (Propranolol, Acebutolol, Carvedilol, Nebivolol…): Dùng trong các trường hợp: Đau thắt ngực, sau nhồi máu cơ tim, suy tim, nhịp tim nhanh, tăng nhãn áp.

TDKMM thường gặp: Ngủ gà, đau cơ chân khi vận động, rối loạn cương dương, ác mộng, làm tăng nặng bệnh mạch máu ngoại vi. Các TDKMM này rõ rệt hơn khi sử dụng thuốc chẹn beta không chọn lọc, nhưng khi dùng thuốc chẹn chọn lọc beta 1 ở liều cao vẫn có thể gây ra các TDKMM này.

Chú ý: Không sử dụng cho bệnh nhân hen phế quản vì thuốc tăng nguy cơ co thắt phế quản. Các  thuốc này dễ tan trong lipid, do vậy qua được hàng rào máu não dễ dàng hơn và gây nhiều tác dụng không mong muốn trên thân kinh trung ương hơn.

 - Thuốc chẹn kênh calci (Amlodipin, Verapamil…): Thuốc nhóm này có tác dụng hạ huyết áp và giúp bảo vệ bệnh nhân khỏi biến cố tim mạch. Bên cạch đó, dùng lâu dài thuốc không gây rối loạn lipid cũng như ảnh hưởng đến đường máu. Gần đây, người ta còn nhắc đến một số lợi điểm của nhóm thuốc này như: chống xơ vữa động mạch, giảm phì đại thất trái, cải thiện chuyển hóa cholesterol…khiến cho nhóm thuốc này ngày càng được sử dụng rộng rãi.

 - Thuốc ức chế men chuyển angiotensin (Captopril, Alacepril, Lisinopril…):

Ngoài tác dụng hạ huyết áp, nhóm thuốc này còn làm giảm nguy cơ tim mạch, giảm nguy cơ đột quỵ. Nhóm thuốc này không gây bất lợi trên chuyển hóa đường, chuyển hóa lipid, không ảnh hưởng đến nồng độ acid uric máu và nước tiểu, do đó thuốc có thể sử dụng cho bệnh nhân THA kèm theo đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tăng acid uric.

Nói chung, các thuốc ức chế men chuyển được dung nạp tốt trên phần lớn bệnh nhân, tuy nhiên cần lưu ý các TDKMM như: có thể gây ho dai dẳng, gây tụt huyết áp trên bệnh nhân mất muối hoặc mất nước nặng, gây suy thận, phù mạch và tăng kali máu.

 - Thuốc ức chế thụ thể angiotensis (Losantan, Valsartan, Telmisartan…):

 Theo các kết quả nghiên cứu, được đăng tải trên tạp chí “Journal of Hypetension” vào năm 2008 đã đưa ra kết luận: Thuốc ức chế thụ thể angiotensis có hiệu quả tương đương với các thuốc ức chế men chuyển trong việc giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim, bệnh tim mạch, thuốc ức chế thụ thể thậm chí còn tỏ ra ưu thế hơn thuốc ức chế men chuyển trong việc làm giảm nguy cơ đột quỵ.

Phối hợp các thuốc điều trị tăng huyết áp: Theo hướng dẫn điều trị tăng huyết áp 2017 của ACC/AHA (Đại học tim mạch Hoa Kỳ/ Hội tim mạch Hoa Kỳ)

+ Ưu tiên sử dụng thuốc hạ áp dạng phối hợp cho bệnh nhân có huyết áp tâm thu cao hơn 20mmHg hoặc huyết áp tâm trương cao hơn 10mmHg so với huyết áp mục tiêu. Các thuốc ức chế hệ rennin – angiotensin phối hợp cùng với thuốc lợi tiểu hoặc thuốc chẹn kênh canxi, nên được ưu tiên lựa chọn để khởi đầu điều trị cho những bệnh nhân này.

+ Các thuốc THA có thể phối hợp với nhau, khi các thuốc này có cơ chế tác dụng khác nhau và đã có chứng cứ về việc phối hợp các thuốc này đem lại hiệu quả cao hơn so với dùng thuốc đơn độc từng thuốc.

+ Việc phối hợp thuốc phải giúp bệnh nhân dung nạp thuốc tốt hơn, giảm thiểu được tác dụng không mong muốn của từng thuốc.

Tăng huyết áp là bệnh mãn tính, nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài. Các biện pháp điều trị không dùng thuốc có vai trò quan trọng, áp dụng cho mọi bệnh nhân để ngăn ngừa tiến triển và giảm được huyết áp, giảm số thuốc cần dùng.

Bài: Thúy Hạnh

Điểm báo